Pages

2.2.12

Kỹ thuật chụp ảnh đồ trang sức

1. Cài đặt đèn và các thiết bị
Để cho ra được những tấm hình chụp trang sức chất lượng cao là một điều bí ẩn chưa bao giờ được giải quyết tốt cả. Tuy nhiên, có một số kỹ thuật đơn giản được sử dụng bởi các các nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp, có thể áp dụng cho những người không chuyên mà vẫn có thể mang lại kết quả ấn tượng. Các ví dụ sau đây cho thấy các bước cơ bản cho phép chúng ta đạt được kết quả như mong muốn. Những hình ảnh này được chụp bằng một máy ảnh kỹ thuật số Canon Rebel với một ống kính 100mm.

Để chuẩn bị cho việc chụp , chúng tôi sử dụng một lều “Ezcube” để làm dịu bóng đổ và loại bỏ độ chói, nó cũng cung cấp một hậu cảnh trơn và không bị rối. Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng một loại đèn bàn dùng trong studio làm nguồn sáng chính, Nó dùng một bóng đèn compact huỳnh quang để cung cấp nguồn sáng đúng với màu sắc ánh sáng ban ngày . Chúng tôi cũng sử dụng bóng đèn LED đặc biệt gọi là “bóng tầm nhiệt” tạo độ long lanh cho những viên kim cương, hay trên bề mặt đá quý, để trình bày trong phần này.

Yếu tố chính để chụp ảnh trang sức là độ sắc nét, ánh sáng, thời gian chụp, và hiệu ứng tạo sự lấp lánh trong trường hợp chụp đá quý. Một bức hình nữ trang cần có độ sắc nét cao. Tốt nhất nên đặt máy ảnh ở chế độ Manual (chỉnh bằng tay) và chế độ lấy nét theo điểm "spot focus". Chế độ lấy nét mặc định của máy ảnh là  chế độ lấy nét trung bình “average focus”, chế độ này lấy nét dựa theo một vùng rộng lớn của một khung cảnh. Trong khi chúng ta muốn lấy nét ở những nơi cần thiết, ở chế độ lấy nét theo điểm cho phép chúng ta kiểm soát chính xác những gì máy ảnh sẽ lấy nét. Tuy nhiên, ngay cả trong chế lấy nét theo điểm. Nhiều máy ảnh kỹ thuật số cũng không thể lấy nét những đối tượng sáng bóng có kích thước nhỏ như đồ trang sức đá quý. Vì thế để chụp cận cảnh đồ trang sức, gần gũi, chúng ta cần một máy ảnh có khả năng lấy nét thực sự tốt.

Một yếu tố khác làm bức  hình sắc nét là sử dụng chân máy (loại 3 chân). Một điều rất cơ bản là phải dùng chân máy hay một thiết bị cố định thân máy khi chụp đồ trang sức. Một chân máy chắc chắn vẫn tốt hơn là một chân máy mong manh, nhưng dù sao có một  chân máy vẫn tốt hơn nhiều lần khi không có nó, vì thế hãy dùng chân máy khi chụp.

Một yếu tố quan trọng khác nữa chính là ánh sáng.  Thông thường, việc sử dụng thiết bị tản sáng mềm (Soft diffuse) rất tốt khi chụp trang sức. Chúng ta biết rằng, chiếc đèn flash của máy ảnh không thể dùng để chụp trang sức được. Thực vậy, đèn này quá sáng trong khi ta chụp ở cự ly rất gần, nhưng lý do chính là vị trí đèn không phù hợp để chiếu sáng lên các đồ trang sức đúng cách. Đèn flash của máy thường tạo ra bóng đổ rất đậm. Thay vì dùng đèn flash, chúng tôi dùng một đèn sáng liên tục được thiết kế để chụp sản phẩm. Sử dụng đèn chiếu sáng liên tục cho phép người chụp thấy được những gì mà hình ảnh cuối cùng sẽ có.

Chúng tôi dùng bóng đèn huỳnh quang để tạo ra ánh sáng giống ánh sáng ban ngày. Những bóng đèn này cung cấp ánh sáng rất đẹp và tự nhiên, chúng sinh nhiệt rất ít. Vì thế có thể dùng trong thời gian dài mà không làm nóng người chụp. Ngay cả khi dùng đèn huỳnh quang, chúng vẫn cần một tản sáng để làm dịu ánh sáng và đó là lý do chúng tôi sử dụng lều EZcube có lớp vải bọc như một tản sáng. Lều này giúp bạn giảm độ chói và hạn chế bóng đổ trên món đồ trang sức.

Tốc độ chụp hợp lý cũng là yếu tố chính để có bức hình như ý. Bây giờ, chúng ta sẽ xem xét một số tình huống cụ thể chụp đồ trang sức như sau.

Chỉ cần dùng hai đèn, là có thể  làm tốt cho tất cả các loại và đó là tất cả những gì cần thiết để cho ra một kết quả tuyệt vời khi chụp đồ trang sức ...Bố trí hai đèn hai bên lều Ezcube để khuyếch tán ánh sáng và giảm độ chói trên sản phẩm. Các đèn này cung cấp nguồn sáng chính cho những món đồ trang sức.

Đảm bảo các đèn này được đặt đúng vị trí để chiếu sáng đúng ý đồ của bạn. Hãy thử di chuyển các vị trí đèn để tìm một vị trí làm nổi bật sản phẩm của bạn. Khi di chuyển đèn, bạn hay quan sát xem ánh sáng thay đổi như thế nào trên món đồ trang sức của bạn Một nhiếp ảnh gia có kinh nghiệm thường sẽ sử dụng một nguồn sáng mạnh và một nguồn sáng yếu hơn để tạo bề nổi cho đề tài. Bạn có thể đạt kết quả tương tự bằng cách thiết lập một ánh sáng xa và gần với chủ đề.



Hình 1: Dùng thêm một đèn phía trước tạo độ chiếu cho kim cương
Hình 2: Nhẫn treo trong một khung cố định
Hình 3: Lều có nắp ở bên trên để dễ thao tác


2. Làm thế nào để kim cương hay bề mặt đá quý thêm lấp lánh
Ánh sáng tán xạ bên trong lều tạo ra nguồn sáng dịu và mềm mại trên đồ trang sức, cho ra một hình ảnh đẹp. Tuy nhiên, ánh sáng này không cung cấp nguồn sáng trực tiếp cần thiết để tạo độ lấp lánhtrên bề mặt đá quý hoặc kim cương. Vì thế chúng cần được chiếu sáng bởi một nguồn ánh sáng khác đặt gần với máy ảnh, cho phép chiếu trực tiếp vào bề mặt của đá. Nhưng bạn không thể sử dụng một loại đèn thông thường vì nó sẽ gây nên những điểm chói và làm nóng sản phẩm.

Dùng một đèn đặt biệt thứ ba (sparkler light) là yếu tố chính để tạo ánh sáng lấp lánh cho kim cương. Đèn phải được định vị sao cho bạn nhìn thấy được độ lấp lánh của đá nhiều nhất.


Hướng đèn Sparkler  trực tiếp vào kim cương để chiếu sáng nó. Bởi vì ánh sáng này không bị khuếch tán bởi  lều, nên nó cần phải chỉnh cường độ sao cho yếu hơn với ánh sáng của đèn ở hai bên lều. Di chuyển ánh sáng này cho đến khi bạn nhìn thấy bề mặt kim cương hay đá quý ánh lên.

Hãy nhìn vào khung ngắm của máy ảnh, khi khi di chuyển đèn này. Trong khi chúng tôi chụp thử nghiệm vài tấm ảnh, tôi nhận thấy rằng, rất có lợi khi tắt hết các nguồn sáng khác xung quanh cho đến khi tìm được vị trí hoàn hảo để có được những hình ảnh ấn tượng nhất.




3. Làm cho kim cương rực rỡ
Dùng một loại đèn Tabletop có bóng đặc biệt, được thiết kế để chụp kim cương, bên trong có 18 đèn LED màu trắng như ánh sáng ban ngày. Đèn này được gọi là “Diamond Dazzler” Led, nó tạo luồn sáng mạnh và hội tụ vào một vùng cần thiết, tạo nên hiệu ứng các tia chiếu lấp lánh trên kim cương,  mà không bị lóa! Loại đèn này bắt buộc phải có khi chụp kim cương.

Ánh sáng của đèn LED này tương với độ Kelvin là 5000k. Chính vì thế mà nó có thể tạo ra các tia trên bề mặt kim cương hoặc tăng thêm sự rực rỡ mà không bị chói. Nó được thiết kế thuận tiện phù hợp với loại đèn “sparkler lights” kích thước 5 inch của chúng tôi

Luôn chắc rằng tất cả các đèn của bạn cho màu sắc phù hợp hoặc bạn sẽ nhận những kết quả không như mong muốn. Không BAO GIỜ pha trộn các nguồn sáng có sắc độ màu khác nhau. Tôi sử dụng tất cả các loại đèn cho ánh sáng ban ngày có cùng độ Kelvin là 5000K cho việc chụp tất cả các hình ảnh minh họa trong bài này, mà không cần phải sửa chữa lại màu sắc. Ngoài ra, hãy cài “cân bằng trắng” trên máy bạn ở chế độ  tự động. Hầu hết các máy ảnh hoạt động hiệu quả với những cài đặt tự động của nó. Nếu bạn bỏ qua lời khuyên này và thay đổi thiết lập “cân bằng trắng” trên máy của bạn, bạn có thể sẽ nhận được bộ hình ảnh có sắc thái hơi xanh. Cài đặt lại cân bằng trắng cũng sẽ biến hình nền của bạn không còn là màu trắng nữa.

4. Làm sao để mặt dây chuyền đứng khi chụp
Chúng tôi dùng một loại dạng sáp đặt biệt để đỡ mẫu nữ trang, nó được xem như một bàn tay vô hình giữ các món đồ trang sức nhỏ trong tư thế đứng. Chỉ cần cho một tí sáp bên dưới các các món đồ trang sức mà bạn đang làm việc để cố định nó. Đây là một cách tuyệt vời để làm chiếc nhẫn hay một mặt dây chuyền cao đứng cố định. Tôi cũng đã sử dụng một chút sáp ở đây cho vào những nơi mà bạn không thấy trong bức hình. Vì vậy, chỉ cần dùng một lượng ít nhất có thể. Chất sáp này rất mạnh và không bị khô nên chúng ta có thể được sử dụng nhiều lần hơn.

Trong bức hình bên phải, cho thấy chất sáp này tuyệt thế nào. Tôi đã làm con ngựa biển đứng thẳng trên tấm gương màu đen, và sau đặt sợi dây chuyền vàng nằm phía sau. Đây là cách mà ngày nay bạn thấy người ta thường làm để tôn thêm vẻ đẹp cho tượng nữ trang. Các món đồ này dùng nền gạch làm hình nền không còn hấp dẫn nữa. Nếu bạn còn nghi ngờ về điều này thì hãy vào các trang web mà bạn yêu thích, xen thử họ bố cục những món nữ trang thế nào khi chụp. Tiffany.com là một trang web đầy tính nghệ thuật để bạn tham khảo




5. Tìm hiểu những ảnh hưởng khi chụp với nền trắng
Dùng một tấm gương trắng trong suốt để tao ra hình ảnh phản chiếu của đồ trang sức mà chúng tôi đã đề cập ở trên. Tạm gọi là, "Hiệu ứng Tiffany "vì công ty Tiffany sử dụng hiệu ứng này thường xuyên trên website của họ ...
Đặt một vòng tay ở giữa tấm gương,để chúng ta sẽ dễ dàng cắt tỉa hình ảnh từ bức hình gốc sau này.

Góc chụp của máy phải làm sao thấy được phản chiếu sinh động của món nữ trang bên dưới tấm gương, do đó, bạn luôn nhìn vào khung ngắm của máy ảnh khi điều chỉnh chân máy của bạn.

Việc đầu tiên, hãy chắc rằng các đồ trang sức phải được làm sạch và dành nhiều thời gian để tìm ra bố cục tốt nhất hoặc tạo dáng mới cho những món đồ trang sức của bạn. Cách hay nhất để chụp ảnh trang sức là phải chụp từ nhiều góc độ khác nhau để tìm ra được tấm hình ưng ý nhất..


Ngay cả khi bạn là người không chuyên, bạn vẫn có thể đạt được những kết quả khả quan mà không cần đòi hỏi nhiều trang thiết bị hổ trợ. Các hình ảnh trong bộ sưu tập dưới đây đã được cắt gọn lại, nguyên bản hình ảnh được chụp bằng máy Canon Digital Rebel với ống kính Macro 100mm

6. Làm thế nào để sử dụng các loại kính màu đen để cho hiệu ứng đặc biệt
Sử dụng tấm nhựa bóng hay bằng thủy tin màu đen để gây ấn tượng mạnh. "Đá hoa cương màu đen" thường được các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp dùng. Ngoài ra chúng có thể được dùng để tạo ra nhiều hiệu ứng khác nhau tùy thuộc vào vị trí chiếu sáng.



Mỗi loại kính bằng vật liệu khác nhau có thể tạo ra nhiều hiệu ứng khác nhau, vì thế bạn nên quyết định hiệu ứng nào sẽ dùng và chọn đúng loại kính. Nếu bạn muốn có một sự phản xạ sâu sắc trên một nền đen tinh khiết, thì đưa vào bên trong lều một mảnh giấy màu đen (bằng hay nhỏ hơn kích của lều  EZcube).

Tờ giấy sẽ được uống cong, che từ phần nóc trên cao đến hết phần lưng của lều. Nó sẽ chặn tất cả các ánh sáng phản xạ lại từ phía sau lưng của lều.

7. Làm thế nào để ngọc trai trông hấp dẫn hơn
Khi chụp ngọc trai, chúng ta chỉ nên sử dụng một nguồn sáng duy nhất đặt ở trên cao, điều này sẽ tạo hiệu ứng ngọc trai có hình tròn và nổi lên



Dùng một đèn 6 inch đặt trên bàn, cạnh lều Ezcube. Nó sẽ hoạt động như một đèn flash. Tôi mở một phần chân sao cho nó đứng cố định và đạt độ cao như ý. Như đã nói ở trên, lều EZcube sẽ làm công việc tán xạ ánh sáng và làm dịu bóng đổ.

Tạo dáng ngọc trai của bạn, bằng cách đặt chúng một cách uyển chuyên, sao cho thật  chuyên nghiệp. Nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp thường thuê một chuyên gia tạo hình để giúp tìm cách bố trí hợp lý nhất, để có được những hình ảnh tốt nhất. Thường người ta sắp các sơi dây chuyền dài bằng ngoc trai theo hình dạng số "8" và sợi ngắn hơn theo dạng vòng tròn nhỏ.

8. Giới thiệu các thiết bị dùng chụp đồ trang sức
Dưới đầy là đèn và các thiết bị được sử dụng để chụp những hình ảnh minh họa ở trên. Xin lưu ý đèn sparkler light và bóng đèn dazzler LED không nhất thiết phải có cho tất cả các loại trang sức. Nó chỉ được dùng trong trường hợp cần chiếu sáng và làm bề mặt đá quý lấp lánh. Ngọc trai &  ngọc đá sẽ không hiệu quả khi làm việc loại đèn này, sẽ có những phản xạ không mong muốn từ 18 đèn LED này trên bề mặt của chúng.

Lều sáng EZcube

•  Làm khuếch tán ánh sáng và làm dịu bóng đổ
•  Kiểm soát phản xạ ánh sáng
•  Cho phép treo các nón đồ trang sức 




Đèn để bàn

• 10" Flood lights & stand mounts
• Có thể điều chỉnh độ cao
• Cho màu sắc trắng ban ngày, dùng bóng đèn CFL  





Đèn Dazzler LED Sparkler

• Đèn bóng food, chụp đèn 5"
• Có thể điều khiển cao đến 6'  
• Công suất 15 Watt 




Đèn tạo độ chiếu kim cương

• Có 18 đèn LED bên trong cho màu trắng sáng ban ngày
• Tạo độ chiếu và tia trên kim cương
• Được dùng để chụp kim cương 




Khung nền nhựa trắng & Đen

•   Màu đen cho sự phản xạ ấn tượng
•   Màu trắng cho sự phản xạ mềm  







Theo vnolas.com
nguồn 
tabletopstudio.com

21.3.11

Bát đại Hộ pháp của Phật giáo Tây Tạng


Một điều khó hiểu của Phật giáo đó là sự xuất hiện của các dạng hình tướng phẫn nộ, khủng khiếp...Có thể nói đó là những hình tướng xấu xí, ghê rợn đến sởn tóc gáy, và những hình tướng phẫn nộ này dường như đi ngược lại với tinh thần Phật Giáo.

Những hình tướng này không hề là biểu tượng cho cái ác hay là tượng trưng cho một ma lực nào đó...Mà thay vào đó chính là tượng trưng cho sự dũng mãnh của thực tại căn bản của vũ trụ nói chung, và tượng trưng cho tâm thức của con người  nói riêng.

Ngoài ra đó còn là sự tiêu diệt những mê muội hư vọng của tâm thức con người, và mục đích của các vị còn là sự bảo hộ cho lòng tín, đức tin. Những hộ thần phẫn nộ là những tượng trưng cho sự chế ngự dục vọng, đánh bại những điều xấu xa.

Những hộ thần thường có thân hình chắc nịch, ngắn nhưng dày... nhiều vị còn có nhiều đầu nhiều tay. Màu sắc của khuôn mặt các ngài thường đựơc hay so sánh với màu mây, màu đá quý...Đó là lý do tại sao trong các sadhanas hay có những đoạn so sánh một vị hộ thần màu đen như đám mây xuất hiện cuối trời, hay là xanh như màu ngọc lục bảo, hoặc trắng như một ngọn núi pha lê, màu vàng như vàng ròng, hoặc màu đỏ như là những tia nắng nơi ngọn núi san hô đỏ...Trong các sadhanas cũng có nói rằng các ngài phủ đầy người một lớp tro của các buổi lễ trộn với dầu mè hoặc là phủ khắp người những vết mỡ, những đốm máu và mỡ người.

Khuôn mặt của các ngài thường có những biểu hiện như sau : miệng mở một cười giận dữ, từ đó ló ra những chiếc răng nanh - người ta hay nói những chiếc nanh đó được làm bằng đồng hoặc sắt. Những con mắt đỏ ngầu đầy máu biểu lộ cho sự phẫn nộ. Thường thì các ngài có 3 mắt.

Điều quan trọng nhất trong nhóm các hộ thần đó chính là nhóm 8 vị, được biết đến như là các hộ pháp chính của Phật giáo Tây Tạng ( Bát Đại Hộ Pháp ), các hộ pháp này được xem như những vị bồ tát, và các ngài có nhiệm vụ chiến đấu một cách không khoan nhượng với bất kì thế lực ma quỷ nào cũng như những kẻ thù của Phật giáo .

Họ bao gồm :
* Yama ( Dạ Ma )
* Mahakala ( Đại Hắc Thiên )
* Yamantaka ( Hàng Phục Dạ Ma )
* Kubera ( Tài Bảo Thiên Vương )
* Hayagriva ( Mã Đầu Minh Vương )
* Palden Lhamo
* Tshangs pa ( Phạm Thiên Trắng )
* Begtse

Yama: ( Dạ Ma ) Thần chết


Dựa trên những truyền thuyết về nguồn gốc của Yama, một người đàn ông được một vị thánh cho biết rằng nếu ông ta nhập định 50 năm ở trong 1 hang động, ông ta có thể đạt được giác ngộ.

Thời gian cứ thế trôi đi, đúng vào đêm ngày thứ 29 của tháng thứ 11 của năm thứ 49. Hai tên trộm đã chạy trốn vào hang động của ông. Trong tay bọn chúng là cái đầu của con trâu mà bọn chúng giết trộm.  Sau đó chúng mới phát hiện ra rằng người đàn ông đã biết được việc làm mờ ám của bọn chúng, bọn chúng quyết định giết ông để bịt đầu mối.

Ông ta van xin bọn chúng tha mạng cho ông, bởi vì chỉ còn vài phút nữa là ông có thể đạt tới giác ngộ. Nếu bị giết chết trước thời hạn 50 năm thì mọi công sức của ông bị đổ sông đổ bể.Bọn cướp phớt lờ trước lời van xin của ông ta, và cắt đứt đầu của ông ta.

Ngay lúc đó, ông ta lập tức biến thành yama và đội cái đầu trâu vào cái xác ko đầu của mình. Yama giết chết hai tên cướp và uống cạn máu của chúng bởi cái chén được làm bằng sọ của bọn chúng.Trong cơn điên cuồng báo thù, Yama đe doạ tiêu diệt hết tất cả dân Tây Tạng.

Người dân Tây Tạng nguyện cầu đức Văn Thù Sư Lợi , xin ngài bảo vệ dân chúng trước cuộc báo thù của Yama. Văn Thù Sư Lợi liền vận dụng thần thông hoá thân thành Yamantaka ( Hàng phục dạ ma ), ngài đánh bại Yama,để cứu giúp dân chúng, đồng thời ngài khiến Yama trở thành một trong những hộ pháp của Phật giáo.

Chúng ta thường thấy Yama hay xuất hiện trong thangka với một phối ngẫu của mình, Chamundi, là người dâng cho Yama một chén tiên dược máu quỷ ( cam lồ máu ). Và những xác người chết như là thứ trang sức của Yama. Yama có màu xanh đen của đầu con trâu.
Vương miện của Yama

Mahakala : Đại Hắc Thiên



Huyền thoại về lịch sử của Mahakala được viết bởi Khedrup Khyungpopa, là người sáng lập dòng truyền thừa Shangpa Kagyu, vào thế kỉ thứ 11. Ngài dạy rằng sức mạnh đặc biệt cũng như năng lực kì diệu của Mahakala là do nguyện lực của đức Avalokiteshvara ( Quan Thế Âm ). Ngài nguyện còn sinh tử và quyết không thành Phật nếu còn chúng sanh chưa được giác ngộ. Sau khi giúp hàng trăm ngàn người, trong vô số đời đạt tới giác ngộ . Ngài thấy rằng sự đau khổ không hề giảm sút mà hơn thế nữa sự ô nhiễm trong tâm thức chúng sanh ngày một tăng trưởng. Ngài thấy thất vọng, nhụt chí. Lúc đó lập tức đầu ngài vỡ tan thành trăm ngàn mảnh vụn.

Phật A Di Đà ( Amitabha) một trong 5 vị Phật ( Tỳ Lô Giá Na Phật, Bảo Sanh Phật, Khai Phu Hoa Vương Phật , A Di Đà Phật, Thiên Cổ Lôi Âm Phật-nd ) ghép những mảnh vỡ lại, và biến thành 11 đầu. Sau đó ngài dặn dò đức Avalokiteshvara hãy thực hiện lại lời nguyện đó một lần nữa, nhưng giữ lời nguyện đó tốt hơn, kiên cố hơn. Do đó Avalokiteshvara có mười một đầu, và trong đó có mười đầu là hiền hoà và một đầu là phẫn nộ. Đầu phẫn nộ đó chính là đại diện cho Mahakala.


Ngài Avalokiteshvara buồn bã, trong khoảng thời gian 7 ngày. Ngài nghĩ rằng trên thế giới đầy những chúng sanh đau khổ cần một kết quả thật nhanh chóng mà không phải có quá nhiều nỗ lực. Sau đó ngài muốn biến mình thành một bổn tôn phẫn nộ để đánh bại nhanh chóng và hiệu quả hơn những trở ngại cho hạnh phúc của người khác. Với tư tưởng này chữ HUM màu xanh đậm xuất hiện từ trái tim ngài. Chủng tự Hum đó đã trở thành Mahakala. Điều đó có nghĩa rằng trong câu thần chú 'Om mani padme hum', chủng tự Hum tượng trưng cho sức mạnh, quyền năng.


Chủng tự Hum của Tây Tạng


Thần chú Om mani padme hum

Sự xuất hiện  của Mahakala kéo theo sự rung động của mặt đất, đồng thời có giọng nói của chư Phật vang vọng trong không trung chứng minh rằng Mahakala có đủ quyền năng làm ban phát những gì chúng sinh mong muốn nếu những mong muốn đó là trung thực và tốt.

Mahakala là một hộ thần giám hộ cho người thống trị Mông Cổ- Thành Cát Tư Hãn- lúc bấy giờ. Sự phẫn nộ của Mahakala được xem  giống như hoá thân phẫn nộ của thần Siva. Ở Tây Tạng, về hình ảnh của Mahakala thường có một đầu và ba mắt, lông mày như những ngọn lửa nhỏ và râu thì có dạng như hình móc câu. Mahakala có từ 2 đến 6 tay.

Điều tự nhiên cơ bản mà dân Tây Tạng thường thờ cúng Mahakala có lẽ là vì ngài là vị thần của lều trại. Bởi vì dân Tây Tạng sống du mục, do vậy thời gian ở lâu mau là phụ thuộc vào thiên nhiên và môi trường xung quanh, do vậy họ dùng lều trại, việc di chuyển và định cư tạm thời là một phần quan trọng của cuộc đời họ.

Ngoài ra ngài còn là một Hộ Pháp rất quan trọng, bởi thế cho nên ở mỗi tu viện đều có một nơi thờ Mahakala.
Yamantaka ( Hàng Phục Dạ Ma )


Yamantaka, là một hoá thân phẫn nộ của Văn Thù Sư Lợi ( Bồ Tát của trí tuệ ), Yamantaka là hoá thân phức tạp và phẫn nộ khủng khiếp nhất trong tất cả các hoá thân phẫn nộ của Phật giáo. Ở hoá thân này , Văn Thù Sư Lợi đã hàng phục được thần chết Yama, khi mà Yama đang trong cơn khát máu điên cuồng trả thù giết hại dân Tây Tạng .

Theo truyền thuyết, trong đại định, Văn Thù Sư Lợi đi khắp tất các nơi trong địa ngục để tìm kiếm Yama. Cuối cùng ngài đã tìm ra được nơi trú ngụ của Yama và các thuộc hạ của mình đó là một thành phố sắt ở địa ngục. ( Yama lúc này mang hình dáng thân người đầu trâu nước ).

Để điều phục Yama, Văn Thù Sư Lợi sử dụng hình dạng như vậy, nhưng thêm vào đó tám đầu và nhân lên nhiều tay, mỗi cánh tay đều cầm những thứ vũ khí đáng sợ. Và hơn thế nữa từ trong thân ngài mọc ra thêm một số lượng chân tương ứng, xung quanh ngài là một số lượng lớn những chúng sanh đang kinh hãi. Để đối đầu với cái chết, ngài hiện thân như chính bản thân của thần chết được nhân lên nhiều lần. Thần chết Yama thấy được bản thân nhưng sự khủng khiếp lại gấp nhiều nhiều lần. Lúc này thần chết Yama gặp phải tình cảnh đúng nghĩa là "sợ muốn chết".

Đó là lý do tại sao các nhà yogi khi thực hành pháp yamantaka , thông qua hình tượng yamantaka họ sẽ phát tiển được định lực đủ mạnh để đối diện với cái chết, cũng như các sự sợ hãi về cái chết. Mỗi đầu, mỗi cánh tay, mỗi bàn chân cho đến từng thái độ, từng món trang sức, tất cả biểu tượng đó của Yamantaka đều là những mảng giác ngộ tối cần thiết cho việc đối diện với cái chết.


Cả Yama và Yamantaka đều mang hình tướng là đầu trâu nhưng Yama thì luôn có một món trang sức hình bánh xe ở trên ngực, đây là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt hai vị hộ pháp này.
Kubera (Vaisravana) ( Tài Bảo Thiên Vương )




Theo thần thoại Hindu, Kubera là con trai của một nhà hiền triết gọi là "Visravas", vì vậy ngài được đặt theo tên cha mình là "Vairavana".  Truyền thuyết nói rằng do sự tu tập nghiêm chỉnh, sự mộc mạc, chân thật của mình trong hàng ngàn năm. Brahma ( Phạm Thiên ), đấng sáo tạo trong thần thoại của Hindu, đã ban cho ngài sự bất tử và biến ngài thành vị thần của tài bảo. Ngài là vị thần bảo hộ cho tất cả các kho tàng của trái đất. Ngài sẽ ban phát kho tàng này cho những ai xứng đáng.

Nơi ở của Kubera là ngọn núi Kailash ( một đỉnh núi linh thiêng, mà người dân Tây Tạng rất hay hành hương tới, tương truyền ai tới được ngọn núi linh thiêng này thì dường như đã tịnh hoá được rất nhiều nghiệp lực, cũng như đã tiến một bước rất dài trong con đường tu tập - người dịch ). Nhưng khi được Brahma bổ nhiệm làm Thần Tài Bảo, thì Brahma cho ngài vùng Lanka ( Ceylon) làm thủ phủ của ngài.

Cũng dựa theo truyền thuyết, ngài cũng được Brahma tặng cho chiếc xe pushpaka, là chiếc xe khổng lồ và di chuyển theo ý nghĩ của chủ nhân với một tốc độ khủng khiếp

Kubera cũng được thờ cúng bởi các Phật tử, ông được xem như là một vị bảo hộ của phương Bắc ( trong một số tài liệu còn nói Kubera chính là Tỳ Sa Môn Thiên Vương, người trấn giữ ở phương Bắc, chủ về tài bảo-nd ). Biểu tượng đặc trưng của ông chính là con chồn. Con chồn đặc biệt này luôn nhả ra châu báu.


Theo Phật giáo , ngài còn được gọi là Jambhala. Ngài luôn xuất hiện dưới hình tướng to béo và được bao phủ bởi châu báu. Chân phải của ngài lúc nào cũng đạp lên một cái vỏ ốc nằm trên một bông sen ( vỏ ốc này tượng trưng cho tốc độ khủng khiếp của ngài ).
Hayagriva : Mã Đầu Minh Vương




Mã đầu minh vương đại phẫn nộ

Hayagriva được thờ cúng ở Tây Tạng một cách chính yếu bởi những người buôn ngựa bởi vì người ta tin rằng Hayagriva doạ và đuổi ma quỷ đi bởi tiếng ngựa hí vang trời. Khi người ta thỉnh, ngài sẽ báo hiệu việc giáng lâm của ngài bằng tiếng hí, đó là lý do có cái đầu ngựa trên đảnh đầu, một dấu hiệu đặc trưng của Hayagriva. 

Âm thanh vang ra từ đầu ngựa, theo như truyền thuyết là có khả năng xuyên thủng màn vô minh, đem lại ánh sáng chân thật của tự do. Thần chú của ngài có chứa những câu thơ như sau.

"Nguyện cầu ngài bảo vệ đàn ngựa
Tăng thêm số lượng ngựa cái
Từ những con ngựa này sẽ sinh thêm nhiều chú ngựa con siêu phàm
Xin ngài hãy dẹp hết những chướng ngại trên đường
và hướng cho chúng con đi đúng hướng"

( do lối sống du mục của người Tây Tạng, nên ngựa là một thứ quan trọng ko thể thiếu trong sinh hoạt thường nhật của họ-nd)
Hayagriva là một hoá thân phẫn nộ của đức Avalokiteshvara ( Quan Thế Âm ), theo những khảo cứu thì có tới 108 hình tướng của Hayagriva. Năng lực đặc biệt của ngài là chữa bệnh, nhất là các bệnh về da, thậm chí cả những bệnh về da khá trầm trọng như là bệnh phong. Bệnh này được tin rằng do Naga gây ra ( Naga là loài rồng nhưng có hình tướng giống như rắn, rất thích sống ở khu vực sông nước, ao hồ, biển cả... nd)

Hình tướng đơn giản nhất của ngài thì có một mặt, hai tay và hai chân. Tất cả mọi thứ về ngài đó là khuôn mặt đáng sợ với ba con mắt, cái miệng đang gầm rống đầy những răng nanh, tư thế đứng của một chiến binh, chiếc bụng to lớn ẩn chứa một nội lực phi phàm trong đó. Tay phải ngài vung thanh kiếm để đe doạ đối phương, tay trái giơ lên phụ trợ trong một tư thế đáng sợ, đồ trang sức của ngài đó là những con rắn.



Hayagriva với hình tướng đơn giản

Nét đẹp của ngài lại là những điều đáng sợ nêu ở trên, bởi vì chính cái khía cạnh đáng sợ đó lại là biểu lộ của sự từ bi, chính cái đáng sợ đó giúp ta buông bỏ được bản ngã, và xuyên thủng được màn vô minh....
Palden Lhamo : Vị nữ thần



Palden Lhamo là vị nữ hộ pháp duy nhất trong nhóm 8 hộ pháp lớn của Phật giáo. Ngài là nữ hộ pháp bảo vệ cho chánh pháp ở khắp mọi nơi, bao gồm cả đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà nước Tây Tạng, thủ phủ Lhasa. Đồng thời ngài cũng là nữ hộ pháp cho đất nước Trung Quốc từ triều đại nhà Yuan (Nguyên - thế kỉ 13) cho tới những ngày cuối cùng của triều đại nhà Qing ( Thanh ) đầu thế kỉ 20.

Ở Ấn Độ, Palden Lhamo còn được gọi là Shri Devi. Ngài còn là là nữ thần Okkin Tungri ở miền Bắc Mông Cổ. Ngài cũng được xem như là một hoá thân phẫn nộ của Saraswati ( Biện Tài Thiên-nd ) vị nữ thần của sự học tập, của sự biện tài ( ăn nói ), và của âm nhạc. Một hoá thân khác của ngài là Chamudi, phối ngẫu của Yama. Lại cũng có thuyết nói ngài là phối ngãu của Mahakala.

Là nữ hộ pháp duy nhất trong việc bảo vệ chánh pháp, thế nên tương truyền rằng những thứ vũ khí của ngài vốn là được các thần khác trao tặng. Hevajra tặng cho ngài hai hạt xúc xắc để định đoạt sinh mạng của con người, Brahma tặng ngài chiếc quạt làm bằng lông công, từ Vishnu ngài được tặng hai chiếc đèn sáng rực ( giống như hai viên ngọc toả hào quang-nd ). Một chiếc thì được ngài cài trên đỉnh đầu, chiếc còn lại được ngài đeo vào ngang eo. Kubera, Thần Tài Bảo, đã cho ngài một con sư tử ( trang sức hình sư tử-nd )( trang sức hình con rắn-nd ) và được đeo ở tai trái của ngài. Từ Vajrapani ( Kim Cang Thủ ) ngài nhận một chiếc búa sấm sét. Những vị thần khác ban tặng ngài một con la, được bao bọc bởi bộ da của quỷ Dạ Xoa, và có những con rắn độc quấn quanh bụng. Người ta hay thấy ngài cưỡi con la này đi du hành khắp muôn phương.
và được ngài đeo ở tai phải. Nanda, Thần rắn, đã ban cho ngài một con rắn


Tôn tượng của Palden Lhamo

Ngoài ra còn có một truyền thuyết nói rõ hơn về sự từ bi của ngài. Tương truyền là ngài đính hôn với một vị vua tên là Shenji, người vừa là một vị vua khát máu vừa là một chiến binh bạo tàn, ông ta từ chối hết những lời yêu cầu của Palden Lhamo khẩn cầu ông dừng giết hại dân chúng vô tội. Cuối cùng ngài đành đưa ra một tối hậu thư :

Nếu ko dừng giết hại, bà sẽ giết những đứa con của mình có với nhà vua, để cho ông có thể trải nghiệm về nỗi đau người thân bị giết hại mà ông ta gây ra cho những người khác.


Shenji vẫn không dừng, thế là ngài thực hiện lời đe doạ của mình. Trước cái chết của con trai mình, ông ta đã buộc phải dừng lại.

Ngài hay được thấy mang theo xác của con trai mình trên lưng con la đi khắp nơi. Đây là biểu tượng cho quyết tâm không dừng lại trước bất cứ điều gì để đem lại sự an bình cho tất cả.
Tshangs Pa  ( Phạm Thiên Trắng )

Brahma (Phạm Thiên) , là một vị thần quan trọng nhất đối với đạo Hindu, tuy nhiên đối với Phật giáo thì Phạm Thiên chỉ chiếm một ví trí thứ yếu. Tên tiếng Tây Tạng của Brahma là Tshangs Pa, chúng ta thường biết đến Brahma với hình tượng 4 đầu 2 tay. Nhưng trong Phật giáo Tây Tạng ngài luôn được biểu hiện với màu trắng, 1 đầu 2 tay và được gọi là "Tshangs pa dkar po". Có nghĩa là Tshangs Pa Trắng.



Hình tượng Brahma trong Hindu giáo

Cũng theo như các sadhana, đây cũng là hình tượng của Brahma. Người ta thường thấy ngài ngồi trên lưng con ngựa trắng, giơ cao thanh gươm, đôi lúc có đeo lá cờ sau lưng. Ngài là một vị thần của chiến binh, nhưng không hiện thân quá khủng khiếp và man rợ. Đằng sau chiếc vương miện ngài là chiếc khăn mỏng có chứa cái vỏ ốc ( một trong những biểu tượng cát tường thường thấy của Tây Tạng-nd ). Ngài mặc những bộ quần áo dài tay và "bồng bềnh như mây".

Mặc dù các truyền thuyết đằng sau nguồn gốc của ngài, không có gì không khế hợp với Brahma, song chúng ta có một truyền thuyết khá thú vị:

Ngày xưa khi ngài ra đời, và được đặt tên là Tshangpa karpo. Ngài lớn lên với đầy đủ sự hùng mạnh, ngài thường dạo khắp nơi trong vũ trụ trên lưng một con ngựa vàng.Vào ban ngày thì ngài dạo chơi trên bầu trời, tới ban đêm thì mới đáp xuống. Vào một ngày nọ, ngài đến các cung trời. Sau đó ngài lừa được một nữ thần ( có thể là thiên nữ-nd) tên là Dhersang, và ăn trộm được viên ngọc như ý của thần. Xui xẻo thay, ngài không thể trốn thoát kịp vì bị một vị thần bảo hộ của cung trời này dùng chiếc lưỡi của mình tóm lấy ngài và ném ngài trở về lại mặt đất, lấy lại viên ngọc như ý đó từ tay ngài, cũng đồng thời lấy luôn trái tim của ngài.Hơn thế nữa ngài bị ép phải hứa hôn với nữ thần Dhersang.
Tsangpa
Thất vọng vì sự bại trận của mình, ngài lại tiếp tục cuộc hành trình của mình trong vũ trụ. Ngài bắt đầu giết tất cả những người thanh niên ở những nơi ngài đi qua, và cưỡng bức những cô gái mà ngài gặp. Một ngày nọ ngài gặp nữ thần Ekajati. Với ý định quấy rầy nữ thần, ngài bắt đầu buông lời ong bướm. Nữ thần Ekajati nổi giận và dùng chiếc khăn tơ lụa của mình đang choàng trên người để đánh ngài.


Ekajati - Bà mẹ khủng khiếp

Bị đánh vào đùi, chân ngài lập tức gãy lìa. Cái đánh của nữ thần ngay lập tức khiến cho ngài giác ngộ và trở thành một trong những hộ pháp của Phật giáo. Cái đánh này không có ý nghĩa là hành hung trên một khía cạnh vật chất. Nó chính là sự tấn công vào các phần tiêu cực, các khía cạnh đen tối của tâm thức và chuyển hoá nó. Bởi vì sức mạnh, năng lực vô biên của ngài được chuyển hướng vào việc bảo hộ và cúng dường cho chân lý, đã khiến ngài trở thành một trong những vị đại hộ pháp của Phật giáo. Trong lịch sử, đây cũng chính là hình ảnh đại diện cho sự hội nhập của tôn giáo cổ của Tây Tạng ( đạo Bon ) vào đạo Phật bởi đạo sư vĩ đại Padmasambhava ( Liên Hoa Sanh ).
Begtse: Thần Chiến Tranh



Người chiến binh man rợ này, vốn là một dạ xoa, là vị thần của chiến tranh ở vùng Trung Á, mặc áo giáp và trang phục của quân Mông Cổ, xuất hiện trong Phật Giáo Tây Tạng vào nửa cuối thế kỉ 16, là hộ pháp cuối cùng gia nhập vào nhóm 8 vị hộ pháp.



Yaksha - Dạ Xoa

Theo truyền thuyết,Begtse, người lãnh đạo của một đội quân động vật,xuất hiện khi Dalai Lama, được mời từ Tây Tạng tới Mông Cổ do vua của Mông Cổ lúc bấy giờ là Atlan Khan ( con cháu của Thành Cát Tư Hãn-nd) để chuyển dổi Phật giáo thành quốc giáo của Mông Cổ.

Biết được việc này nên đức Dalai Lama liền hoá thành Quan Âm Tứ Thủ Avalokiteshvara, vị Bồ Tát của lòng từ bi, hai tay của ngài chắp trước ngực tạo thành ấn nguyện cầu. Bước chân của con ngựa ngài cỡi, in lên trên cát không phải là dấu chân mà lạ thay lại là câu thần chú Om mani padme hum.Tận mắt chứng kiến phép màu này, Begtse liền tin tưởng ngay vào tính ưu việt, sự vượt trội của Phật giáo và tự động quy phục, và chuyển sang Phật giáo. Người ta nói sự quy phục của Begtse chính là hình tượng cho việc chuyển đổi quốc giáo của Mông Cổ thành Phật giáo.



Chân dung của Begtse

Ngài là xuất hiện với đầy đủ các thứ phục trang như các hộ pháp khác, giơ cao một thanh gươm ( cán gươm có hình con bò cạp ) trong tay phải. Tay trái thì nắm một chiếc đầu của kẻ thù màu cam, ta còn có thể thấy ngài giương cung tên cùng lúc đó. Ngài đạp lên xác chết của người đàn ông bằng chân trái, chân còn lại thì ngài dẫm lên cái xác chết của con ngựa. Ba con mắt của ngài đầy sự phẫn nộ,nhìn trừng trừng đủ để đe doạ những kẻ phá hoại chánh pháp.
*
Đôi lời tự sự : Cuối cùng Thiện Duyên đã hoàn tất được bài viết về Bát Đại Hộ Pháp. Thật sự nhân duyên khiến Thiện Duyên gắng sức, chính là muốn góp một phần sức nho nhỏ của mình cho mọi hành giả Phật giáo và nhất là những hành giả của Kim Cang Thừa biết rõ hơn về chư vị hộ pháp. Cũng xem đây như là một món cúng dường của Thiện Duyên và các bạn đồng học đếnTam Bảo, đến dòng truyền thừa,chư tổ, đến đức bổn sư HH18th Dromtug Rinpoche Losang Choekye Pelden và bổn sư HH Gyalwang Drukpa XII của mình...
Xin nguyện chư vị hộ pháp thường hằng hộ niệm tất cả chúng sinh cho tới tận rốt ráo viên thành quả vị.
Do cũng có lấy nguồn tài liệu từ nước ngoài, mà khả năng dịch thuật lại còn có giới hạncho nên nếu có sai sót gì xin mọi người niệm tình bỏ qua.
Mọi sai sót nếu có đều là do người dịch, mọi công đức nguyện hồi hướng tới tất cả chúng sanh.
*

14.3.11

Torrent Demonoid.me Invitations code

Invitations
To invite someone to the site, give him/her one of the following invitation codes, and the account registration address:
http://www.Demonoid.me/register.php?with_invite=1
Please note: To avoid abuse, invitations are limited. Also, if someone you invite gets warned/banned, you might get warned/banned too.

Please do not try to sell your invitation codesIt is against site policy. Thank you!
Invitation code list:

leoshadowX3gnv0mz8ncrsxlnjcqijezhkqil5pkgjmwf
leoshadowX21mwrr2br4z79brhxv9qylorc3r3bguwkms
leoshadowXo37brn3h726bw80lddhly05gw3qhakf6
leoshadowXu5c9fhok0s7kqpx47khec24tanum8jmfjun
leoshadowX8vawn2mzvmjp3oj0skgv7t68h


12.1.11

KINH LĂNG-GIÀ TÂM ẤN

Niệm là vọng giác. Si hoặc là bất giác. Chân như không tánh bất giác vọng động, kiến hoặc vừa sanh liền có vọng giác. Muốn sạch vọng giác thì phải tìm tột chỗ khởi vọng giác. Muốn ngộ bất giác thì cần xét cùng chỗ sanh bất giác. Chừng ấy mới biết Chân như không tánh là mật chỉ của chư Phật, nên phải hỏi trước. Cõi tức là cõi nước. Hóa tướng là tất cả tướng biến hóa trong lục đạo. Trước nói ngoại đạo, sau đề ra Vô thọ, đó là muốn biện sự sai biệt của tà chánh. Vô thọ là Mâu-ni tịch tĩnh, chẳng thọ một pháp, lìa các tướng trạng. Thứ là thứ lớp các địa. Kinh Kim Cang nói “do pháp vô vi mà có sai biệt”.

10.1.11

Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm

 
Hành Trì
Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm
 
 Ta đang khổ, thế giới đang nguy, nên nhớ niệm và chú ý nghe từng chữ theo câu thần chú:
NAM MÔ ĐẠI PHẬT ĐẢNH TÂM CHÚ MA HA TẤT ĐÁT ĐA BÁT ĐÁT RA. 
Phật dạy : A NAN, đây là “Đảnh Quang Tụ” mầu nhiệm bí mật của mười phương Chư Phật nói ra ! Tất cả mười phương Như Lai do tâm chú này được thành Vô Thượng Chánh Biến Giác. Mười phương Như Lai nương tâm chú này; hàng phục các ma, chế ngự ngoại đạo. Mười phương Như-Lai nương tâm chú này ngồi hoa sen báu ứng thân khắp cõi vi trần. Mười phương Như Lai giữ tâm chú này ở trong cõi vi trần chuyển đại pháp luân. Mười phương Như-Lai trì tâm chú này ở trong mười phương xoa đầu thọ ký. Mười phương Như Lai nương tâm chú này ở trong mười phương cứu vớt khổn nạn cho chúng sanh. Khổ nạn đó như là : địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, ngây điếc ngọng, câm, khổ ghen ghét, khở chia ly, khổ cầu không không được, khổn 5 ấm thạnh suy, các khổ trái ngang, khổ vì cường quyền áp bức, khổ vì giặc cướp binh đao, khổ tù tội, khổ vì nước lửa gió đất, đói khát nghèo nàn… nhờ tâm chú mà tiêu tan diệt hết ! Đồng được giải thoát. 
   Mười phương Như Lai tùy theo Tâm Chú này, đối với mười phương tri thức, với 4 oai nghi cúng dường được như ý. Mười phương Như Lai tụng Tâm Chú này mà thành chánh giác ngồi tòa Bồ Đề, vào cõi niết bàn. Sau khi diệt độ mới được rốt ráo trụ trì Phật Pháp sự. 
Ta nói Phật Đảnh Quang Tụ Bát Đát Ra Chú, tiếng nói liên tục, từ sáng đến tối, trải qua hằng sa kiếp không sao hết được. Ta cũng nói mãi chú danh “Như Lai Đảnh” nầy để cho các ông còn trong hàng hữu học, chưa ra khỏi luân hồi, chí thành phát tâm cầu đắc quả Vô Thượng Cháng Đẳng Chánh Giác. Không nhiếp trì Chú nầy, mà thân tâm có thể rời các Ma Sự lên được Đạo Tràng không bao giờ có chuyện như vậy”. 
Đây là đoạn kinh Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhơn Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh, 136.137/Mật Giáo bộ 1q19 Đại Tạng Đại Chánh Tân Tu, phần quan trọng nhất cho Mật Pháp Tu Trì. 
Tôi, HT Thích Huyền Tôn cảm đức lớn những lời dạy của Đấng Từ Phụ xin dịch ra Việt ngữ, mong tất cả, nếu sợ sanh tử luân hồi, nếu sợ khổ, nếu mong thương cứu lấy bản thân, xót xa với bao khổ đau của Cha Mẹ bà con và chúng sanh. Kính xin các vị hãy chí tâm trì niệm Chú Phật Đảnh. Rồi hồi hướng cho tất cả “Nguyện”, nhất định thành tựu như ý. Xin kính tin lời Bổn Sư dạy. Chấp tay cúi đầu mong nghe cho.  
Viết tại Chùa Bảo Vương, Phật lịch 2554. Việt lịch 4889. Tây lịch 2010
Dịch giả: HT Thích Huyền Tôn
---o0o---
Cập nhật ngày: 01-10-2010

9.1.11

truyện ngắn: TÔI GẶP MA

Khu cư xá Thanh Đa nằm trên bán đảo Thanh Đa ven dòng sông Sài gòn thơ mộng. Nhắc đến Thanh Đa, ai cũng nghĩ đến món cháo vịt nổi tiếng và những dãy quán cà phê ven sông. Thanh Đa đi vào kí ức của mọi người không chỉ bởi đặc sản cháo vịt, bánh tráng Trảng Bàng hay… những đĩa phim quay lén về cà phê Thanh Đa. Nhắc đến địa danh này, nhiều người vẫn còn rì rầm kể cho nhau nghe những câu chuyện… ma bất thành văn bản… Thắm thoắt đã ba năm trôi qua kể từ ngày sư ông và sư phụ lần lượt qui thiên, tôi ít khi về Thủ Đức thăm chùa. Nhiều lần tôi tự nhắc mình phải về chùa thường xuyên hơn. Dù gì đi chăng nữa, nơi đó vẫn còn di cốt của hai người, vẫn còn có sư bá để mình thăm hỏi. Nhưng, mỗi lần nghĩ đến ông đại sư huynh của thầy là y như rằng tôi rùng mình ớn lạnh. Cái ông già khó đăm đăm, mặt ổng lúc nào cũng quạu đeo, hầm hầm như người bị mất của mà không tìm ra kẻ trộm (mô Phật). Đặc biệt là đôi mắt, ông nhìn ai là cứ như soi đến tim gan phèo phổi của người ta. Trong các hàng huynh đệ, không ai dám nhìn lâu vô mắt ổng hết trơn. Nghe nói, ngày xưa ông bế quan luyện Thần Long nhãn suốt 108 ngày. Đến khi xuất quan, người ốm tong teo còn hai con mắt cứ như điện. Ai nhìn thấy cũng sợ.
Không biết thật giả thế nào, riêng tôi đã có lần chứng kiến sư bá nhiếp phục con tà bằng ánh mắt rồi. Hôm đó, từ Biên Hoà có một nhóm người chở theo một phụ nữ ngoài ba mươi tuổi. Nhìn chị ta có vẻ như người bình thường nhưng không hiểu sao lại bị trói thúc ké như tội phạm. Thấy ai nấy ngạc nhiên, người nhà vội giải thích:
- Mấy thầy hổng biết đó thôi. Nó tinh ma quỷ quái ghê gớm. Hồi nãy muốn trói được nó tụi tôi phải nhờ đến sáu người đàn ông khoẻ mạnh áp vật xuống mới thắng đó. Chứ sơ sơ hai ba người xáp lại, nó hất một cái ngã chỏng cẳng luôn.
- Sao tôi thấy nó tỉnh queo mà? – Tôi vọt miệng nói, không kịp nhìn thấy ánh mắt răn đe của thầy.
- Tụi tôi cũng hổng biết nữa. Vừa tới đầu đường vô chùa, tự nhiên nó tỉnh queo như chưa hề bệnh hoạn gì hết.
Người đàn bà bổng nhiên khóc nức nở:
- Mấy thầy ơi, cứu giùm con. Khi không mấy ông này áp trói con lại, rồi đánh đập con. Họ nói con là tà ma quỷ quái. Họ đánh con như vầy nè…
Vừa nói, người đàn bà cúi xuống dùng vai phải hất mái tóc rủ loà xoà trước trán lên. Phía trên thái dương cô ta còn một vết bầm rướm máu. Ai nấy xuýt xoa thương cảm. Thấy vậy, người đàn ông lớn tuổi nhất vội phân trần:
- Tụi tôi có làm gì đâu. Nó vu oan giá hoạ đó. Lúc nãy mọi người áp trói nó, nó hất một cái hai người văng ra rồi chạy lao đầu vào cột nhà. Nếu tui không ôm nó lại kịp, chắc bây giờ đã tẩn liệm xong luôn rồi!
Mọi người con đang nói chuyện thì sư bá tôi bước ra. Đang khóc lóc kể lể, người đàn bà ngó thấy sư bá liền nín bặt. Trông vẻ mặt cô ta có vẻ hoảng hốt. Sư bá tỉnh như không, chẳng thèm ngó ngàng gì đến bà ta, từ tốn bước lại bàn ngồi và thong thả rót trà uống. Ai nấy im bặt nhìn sư bá như chờ đợi. Bầu không khí trong chùa bỗng chùng xuống nặng nề…
Uống xong hớp trà, bất chợt ông ngước mắt lên nhìn người phụ nữ…

Cái nhìn của sư bá cũng bình thường thôi, không trừng không trợn nhưng sao tôi cảm thấy từ trong ánh mắt ấy toát ra một uy lực lạ lùng. Bất giác, tôi lùi lại một bước. Nhìn qua mấy sư huynh đồng môn, họ cũng đã lùi trước từ lúc nào. Chỉ có mình thầy tôi ung dung ngồi đó uống nước với sư bá.
Người phụ nữ bỗng thay đổi thái độ. Trông cô ta có vẻ sợ hãi. Đôi mắt cô láo liêng nhìn qua lại như muốn tìm chỗ thoát. Đoạn, cô cười gượng gạo:
- Ơ hay, cái ông thầy này nhìn tui ghê quá hả!
Sư bá vẫn không trả lời, mắt vẫn nhìn cô ta đăm đăm. Không khí lắng xuống đến nặng nề. Tôi cảm thấy ngực mình như có một hòn đá lớn đang đè xuống. Chợt, sư bá cất tiếng:
- Cởi trói cho nó.
- Dạ, nhưng mà thầy… - người đàn ông lớn tuổi toan nói gì đó nhưng nhìn thấy ánh mắt sư bá liền cun cút làm theo không dám nói thêm lời nào.
Những tưởng người phụ nữ sau khi được cởi trói sẽ vùng chạy. Nhưng không, cô ta vẫn đứng đó ngơ ngác. Nhìn khuôn mặt cô ta lúc đó thật đáng sợ, vừa sợ hãi thê lương vừa căm hờn phẫn uất. Cô ta cứ ngó dáo dác mà chân không hề di chuyển. Sư bá vẫn cứ im lặng ngồi nhìn… Ngay lúc đó, người đàn bà cất tiếng cười lớn ghê rợn:
- Ha ha… thằng thầy chùa này mê tao rồi. Tụi bay thấy không, nó nhìn tao say đắm đấy nhé. Này, nhìn hả, nhìn đi, tao cho mày nhìn.
Vừa nói cô ta vừa ưỡn ẹo thân thể ra vẻ khêu gợi. Tôi thấy người nhà đi theo có vẻ lúng túng.
Sư bá vẫn ngồi im, ngó cô ta đăm đăm. Đôi mắt của ông trong trẻo một cách lạ kỳ.
Về phần người phụ nữ, càng ưỡn ẹo cô ta càng có vẻ bứt rứt như phát cuồng. Chợt cô ta gào lên:
- MÀY CÒN NHÌN HẢ, NHÌN CHƯA ĐÃ HẢ? MUỐN NHÌN THÊM KHÔNG, TAO CHO MÀY NHÌN MÃN NHÃN LUÔN.
Trong lúc đang nói, cô ta lao nhanh về phía sư bá. Mọi người hốt hoảng, tôi thoáng thấy sư huynh Minh Tịnh co tay thành Lôi ấn. Chắc huynh ấy định sử dụng Ngũ lôi phù.
Nhưng, ngoài dự đoán của mọi người. Sư bá vẫn điềm nhiên ngồi nhìn, thầy tôi ngồi kế bên cũng ung dung không kém. Dường như thái độ hùng hổ của người đàn bà ấy không tác động gì đến hệ thần kinh của hai người.
Điều bất ngờ nhất đã xảy ra. Người đàn bà đang lao đến chỗ sư bá đã đứng sững lại như va phải một bức tường vô hình, cô ta loay hoay mãi không thể nào tiến thêm một bước. Tức khí, cô ta cất tiếng chửi:
- Mẹ mày… đồ thầy chùa lửa, đồ dê gái! Dê không được nên ngắm nhìn cho đỡ ghiền hả? Muốn nhìn phải không, tao cho mày nhìn tới luôn.
Nói xong, cô ta đưa tay giật tung hàng nút áo ngực lộ cả áo trong ra. Đám đệ tử tui tôi quay mặt chỗ khác. Người nhà cô ta xấu hổ chạy lại định gài nút áo, cô quay lại hất một cái người nhà té lăn cù như quả banh. Đến lúc này tôi mới thấy sức mạnh kinh hồn của cô ta.
Sư bá vẫn ngồi điềm nhiên nhìn. Nhưng khuôn mặt ông có vẻ nghiêm hơn. mắt ông trở nên sáng long lanh. Người đàn bà cứ đi qua lại trước mặt ông ở khoảng cách hai mét. Cô ta vừa nắm hai vạt áo mở ra khép vào vừa hẩy bụng và ngực về phía sư bá. Nhưng càng làm dữ cô ta càng tỏ vẻ bứt rứt như có cái gì đang thiêu đốt trong người vậy.
Bất ngờ, người đàn bà quỳ thụp xuống gào khóc:
- Thả tao ra, thả tao ra đi. Tao cầu xin mày mà. Làm ơn cho tao đi đi mà…
Sư bá vẫn nhìn lặng lẽ.
Cái nhìn của ông bén ngót như lưỡi dao sắc lạnh xuyên vào da thịt người ta. Tiếng la của người bệnh vang lên bài hãi nghe xé màng nhỉ:

- Trời ơi đừng nhìn nữa! Tha tôi đi, làm ơn tha tôi đi.
Cô ta oằn oại trên sàn như con rắn bị đập đầu, rồi chồm dậy đập đầu xuống đất nghe binh binh. Eo ôi! Cái kiểu này chắc bể đầu chứ không giỡn đâu. Tôi thầm lo trong bụng.
Hai vị tiền bối vẫn ngồi im không nói. Tôi thoáng thấy sư phụ tôi mỉm cười. Dường như ông đã đoán trước được kết quả rồi.
Quả thật như vậy. Người phụ nữ sau vài phút dập đầu đã ngẩng lên, tóc tai rũ rượi, nước mắt ràn rụa. Cô ta lết lại gần sư bá tôi chắp tay van lạy:
- Thầy ơi, thầy tha cho con lần này. Con cầu xin thầy. Xin đừng đốt con nữa tội nghiệp con thầy ơi…
Sư bá quay sang thầy tôi:
- Ông rót giùm tui ly nước cho nó uống đi.
Thầy tôi lặng lẽ làm theo. 
Đón nhận ly nước từ tay thầy tôi, người bệnh uống một cách miễn cưỡng.
- Ngồi xuống đó – Sư bá ra lệnh, người phụ nữ làm riu ríu.
- Ngươi có ân oán gì với cô gái này mà đi theo ám người ta vậy hả?
- Dạ, thưa thầy – thái độ cô ta có vẻ bình tĩnh lại – con là Đặng Duy Nam, vốn là chồng sắp cưới của Như (*tên cô gái). Ba năm trước, lúc tụi con chuẩn bị làm đám cưới thì con bị tai nạn giao thông mà chết. Như đã không nghĩ đến tình cảm của con mà còn bắt bồ với thằng khác. Bây giờ tụi nó sắp cưới nhau. Làm sao con tha thứ cho được.
Sư bá tôi tỏ thái độ nghe chăm chú. Đoạn, ông khẽ cúi đầu thở dài:
- Nhân quả nghiệp báo. Biết bao giờ mới dứt đây.
Ngước mắt nhìn người phụ nữ giờ đây đang ngồi xếp bằng tròn thổ thức dưới đất, ông hỏi:
- Ngươi có biết là vài hôm nữa Quỷ Vô thường đến bắt ngươi về không?
- Dạ … biết…
Sư bá nạt ngang:
- Đã biết sao còn sanh chuyện cho thêm tội hả?
Cô gái cúi đầu tránh ánh mắt nghiêm khắc của ông, lí nhí trả lời:
- Thầy ơi, con không cam lòng… con yêu Như mà thầy…
- Vậy là người định bắt cô gái này theo người chứ gì?
- Dạ…
- Đúng là vô minh!- sư bá quát lớn khiến mọi người giật thót mình - Thọ mạng người ta còn, ngươi bắt được à. Bắt rồi, ngươi có sống được với người ta không chứ. Nghiệp chồng nghiệp, phen này ngươi khó đầu thai rồi.
- Thầy ơi, vậy bây giờ làm sao hả thầy?
- Nếu người bằng lòng rời khỏi thể xác, ta sẽ nói gia đình cô ta lập trai đàn ba ngày siêu độ cho ngươi. Nhờ các thầy trì tụng, mong rằng ngươi sẽ được giải bớt nghiệp chướng đời này.
- Nhưng… còn Như thì sao?
- VÔ MINH – sư bá hét lớn - VẪN CÒN QUYẾN LUYẾN KHÔNG MUỐN RỜI PHẢI KHÔNG?
- Dạ… con…
- Ngươi không chịu tỉnh ngộ, ta nhốt ngươi ba ngày rồi triệu Vô thường quỷ đến bắt đi. Lúc ấy ngươi không trách gì ta được nha!
- Dạ... thưa thầy... con chịu…

… Sau sự việc ấy, sư bá tôi nổi danh như cồn, tiếng tăm vang xa hơn cả sư ông. Nhiều người bệnh từ khắp nơi: Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vũng Tàu, Phan Thiết… cũng lặn lội tìm đến chữa trị. Ngày ấy, tôi thường xuyên về chùa nên chứng kiến và học hỏi rất nhiều từ ông đại sư huynh của thầy mình…Nhớ đến sư bá là bao nhiêu kỉ niệm lại ùa về trong tâm trí… Tôi khẽ lắc lắc cái đầu như muốn xua tan hoài niệm. Hôm nay tôi phụ trách city tour. Một đoàn khách từ Quảng Bình vào tham quan thành phố ba ngày. Đây cũng là cán bộ hành chánh nên giá tour chẳng có bao nhiêu. Phòng điều hành quyết định đưa khách về nghỉ tại Nhà nghỉ Công đoàn Thanh Đa. Nghĩ ra cũng tiện, tiện nghi cũng không đến nỗi tệ, cách phục vụ đúng kiểu bao cấp (chắc cũng quen thuộc với khách), không gian cũng yên tĩnh…
Ngày thứ nhất, đón khách từ cầu Bình Triệu. Tôi đưa thẳng về nhà nghỉ nhận phòng rồi ăn chiều. Những công việc lặt vặt của nghề thiết tưởng không cần phải kể ra làm gì cho dài dòng. Tôi xin kể vào sự việc chính…
Tối đầu tiên tham quan chợ Bến Thành và dạo phố đêm, nhiều vị khách đi lạc không biết đường về điểm tập kết. Tôi phải tìm mướt mồ hôi mới gom lại đủ. Về đến Nhà nghỉ Thanh Đa thì đồng hồ đã chỉ 11g35’. Giờ này còn về nhà gì nữa! Tôi quyết định ở lại để sáng mai đưa khách đi Củ Chi sớm. Các chị nhà phòng cũng ưu ái xếp cho tôi căn phòng tiện nghi ở cầu thang số 12 (gần cổng lớn). Những tưởng sau những giờ mệt mỏi chạy rã giò tìm khách, tôi sẽ ngủ một giấc ngon lành. Nhưng không, thật khó ngủ. Cố nhắm mắt dỗ ngủ mà lòng cứ tỉnh như không. Đôi mắt cứ trao tráo nhìn trần nhà như không muốn khép. Tiếng quạt trần quay vù vù làm tôi khó chịu. Tắt quạt một lát thấy nóng nực lại chồm lên mở. Tôi cứ loay hoay, bứt rứt. Định ngồi dậy luyện tập một lát nhưng lại làm biếng. Kể từ khi sư ông và thầy mất rồi, tôi cũng trở nên chây lười, chễnh mãng việc tập tành. Đã vậy tôi còn đi theo lũ bạn trong công ty đi hát hò nhậu nhẹt thâu đêm suốt sáng. Riết rồi tôi không biết mình có còn là dân huyền môn hay không nữa. Hình như những gì trong quá khứ đã phai nhạt dần khi hiện tại mở ra quá nhiều cám dỗ. Tôi bắt đầu thích cái cảm giác ngồi đến hai ba giờ sáng ở một quán nhậu ven sông để lắng nghe nhịp thở của cuộc sống về đêm, lắng nghe mạch máu căng ra vì chất men quá liều, nghe hơi lạnh tràn về khắp mọi nẻo giăng giăng. Tôi cũng bắt đầu để ý đến một chút thời trang của các cô trong công ty, cũng chịu khó pha trò, nói tục… Tôi đã thay đổi không còn là mình cho đến đêm nay…
Không muốn tập luyện, tôi chuyển sang dỗ ngủ bằng cách đếm. Đếm đến mấy ngàn số rồi tôi vẫn cứ trơ trơ. Bực mình, tôi ôm mền ra phòng khách nằm ngủ. Kéo mấy cái ghế salon lại sát nhau, tắt đèn, mở quạt trần vừa đủ mát, tôi hạ tấm nệm dựa lưng xuống làm gối và khoan khoái kéo mền lên tận cổ để ngủ. Quả thật ở ngoài phòng khách mát mẻ hơn nhiều. Tôi lim dim tận hưởng cảm giác thoải mái rồi lâng lâng vào giấc ngủ…
Bất ngờ ... cái mền tôi đang đắp bỗng nhiên tụt xuống như có người đang kéo...
Giật phắt mình, tôi chụp cái mền ngồi bật dậy ngó dáo dác… Chung quanh im lặng như tờ, chỉ có tiếng quạt máy quay vù vù trong không gian.
Ngồi im một lúc lâu, thấy không có động tĩnh gì, tôi lại nằm xuống kéo mền lên ngực ngủ tiếp…
Vừa lịm người đi, cái mền đang đắp trên người tôi bị ai đó giật phắt một cái rơi xuống đất. Thất kinh hồn vía, tôi chồm dậy la lớn: “AI ĐÓ?”. Đáp lại câu hỏi của tôi là không gian tối om, tĩnh lặng.
Tim đập thình thịch, tôi rón rén chạy đến góc phòng bật công tắc đèn. Xung quanh sáng loà ánh đèn néon trắng. Mọi thứ vẫn ổn, chỉ có cái mền của tôi là không bình thường. Nó bị quăng vào góc tường, cách chỗ tôi nằm hơn một thước. Vừa sợ vừa giận, tôi co tay thủ Kiếm quyết bước tới nhặt cái mền lên. Xung quanh vẫn tĩnh lặng. Nghe hơi ớn lạnh, tôi để luôn đèn sáng, nhảy lên salon nằm.
Lần này đừng hòng mà ngủ.
Tôi nằm nghiêng chờ đợi, tay phải nắm luôn Kiếm quyết, bụng thầm nghĩ: “Tụi bây định giỡn mặt với thầy hả con. Đứa nào ra ông cho một kiếm là tan nát hồn phách luôn!”.
Một phút…
Hai phút…
Năm phút…
Mười phút…
Chẳng có động tĩnh gì.
Tôi mệt mỏi bắt đầu lim dim mơ màng. Bỗng…
“Ké…é.. é..t”
Hai chiếc ghế salon được tôi kê làm giường nằm bị kéo thẳng về hai phía. Tôi rơi xuống đất đánh “bịch” một cái đau điếng hồn. Hoảng quá, tôi lồm cồm bò dậy quơ vội cái mền chạy vào phòng đóng cửa lại...
Chui tọt vào trong mùng, tôi không quên mở đèn sáng choang. Tim đập liên hồi trong cảm giác bàng hoàng, sợ hãi, tức tốI, hổ thẹn. Ai đờI làm thầy chữa bệnh trị tà, giảI vong từ bao năm qua, vậy mà đến lúc này bị ma quỷ phá phách mớI xấu hổ chứ!
Tôi ngồI thừ trong mùng một hồI lâu vớI ngổn ngang tâm trạng. Nhìn xuống đồng hồ, cây kim giờ đã chỉ đúng số 1. Tôi uể oảI chắp tay đọc bài kinh Phật Tổ:
“Á rá hăn – sam ma sam buol đô
Quýt chá chá rá ná
Sam ban đô
Su ga tô
Lô ca quyt du
An nu ta rô
Pu ri sa đam
Ma sa ra thi
Sat tha đê va
Ma nu sa năng buôl đô
Pa ga va ti”
 MớI đọc có 2 biến mà mắt tôi muốn sụp xuống. Buồn ngủ kinh khủng. Ráng đọc xong đến biến thứ ba là tôi rũ cả ngườI ra. DuỗI chân ra ngáp dài một tiếng, tôi ngả lưng xuống nệm, vặn vẹo ngườI mấy cái khoan khoái. Cảm giác nặng nề lúc nãy biến mất. Tôi xoay ngườI lạI ngay ngắn và thiếp đi…
… Sao mà tôi vẫn thức thế này! mắt vẫn mở trao tráo nhìn trần nhà. Một cảm giác lạnh lẽo bao trùm lấy căn phòng, cái lạnh phủ dần từ hai bàn chân, lan toả đến đầu gối. Tôi cảm thấy rất rõ từng thớ thịt tôi ơn ớn rồI tê lạI khi hơi lạnh đi qua. Biết có chuyện, tôi cựa mình ngồI dậy. Nhưng, tay chân tôi không còn điều khiển được theo ý mình nữa rồi. Hơi lạnh lan đến bụng, cảm giác nặng nề khó thở tràn ngập, ngực tôi nặng như đá đè, phổI cứng lạI không thở được. Và tôi thấy…trong ánh sáng trắng bệch của ngọn đèn néon, hai bóng ngườI đi xuyên qua cánh cửa phòng ngủ bước vào trong. Rõ ràng họ đi rất bình thường, nhưng không có một cản trở ngăn ngạI nào trong bước đi của họ. Đó là hai ngườI đàn ông, một già một trẻ. Gương mặt xanh xao lạnh lùng vô cảm. Đôi mắt đứng tròng không hề chớp cứ nhìn chăm chăm vào mặt tôi. Cả hai đều mặc bộ đồ trắng, thứ quần áo bệnh viện thường mặc cho bệnh nhân…
Nói thì dài nhưng sự việc diễn ra nhanh chóng. Họ bước xuyên qua cái giường ngoài (mỗI phòng ngủ của Thanh Đa có hai giường, tôi nằm giường trong, sát vách tường) và tiến đến ngay chỗ tôi nằm. NgườI trẻ đứng phía dướI chân, ngườI già đứng ngang ngườI tôi. Họ cúi xuống.
Giá mà tôi có thể hoá thành khói biến đi khỏI đôi mắt của họ, Nó đờ đẫn và sâu hun hút như cánh cửa địa ngục, khuôn mặt xanh mét của một xác chết. Cả hai thò tay ra…
Bốn cánh tay cùng lúc xuyên qua chiếc mùng tuyn mỏng và dần dần hạ xuống cổ tôi. Tôi nhìn thấy rõ những cẳng tay gầy guộc, khẳng khiu không có một chút sinh khí nào. Các bàn tay đè chặt làm tôi không thở được, hơi lạnh chết chóc từ những ngón tay thít chặt trên cổ truyền sang cơ thể, thấm vào trong mạch máu làm tôi cứng đờ người. Tôi vùng vẫy trong tuyệt vọng, miệng thốt ra những tiếng ú ớ vô nghĩa. Hai bóng ma vẫn trơ trơ vô hồn, đôi mắt sâu thẳm của họ mở ra to dần thành hai hố đen sâu hun hút, tôi thấy trong đó là vòng xoáy trôn ốc cuốn tôi vào. Đầu óc quay cuồng, ngực không còn thở được, tôi thở dài: “Vậy là hết…!”
Bỗng nhiên…
Một tiếng vỗ bàn vang lên đánh “RẦM” như tiếng sấm. Nghe như tiếng vỗ bàn quen thuộc của sư bá tôi khi nhiếp phục con tà.
Tôi giật nảy mình. Hai bóng ma mờ dần, mờ dần rồi tan biến như sương khói.
Cảm giác lạnh lẽo khó thở cũng giảm nhẹ dần…
Tôi chồm dậy. Đèn néon vẫn sáng, chiếc quạt trần vẫn quay nhè nhẹ trên cao. Xung quanh yên ắng đến lạ kỳ. Tôi bần thần không biết là mơ hay thật. Nhưng có điều chân tôi vẫn còn cảm giác lành lạnh không bình thường. Tim vẫn còn đập thình thịch trong lồng ngực. Gương mặt hai người đàn ông lúc nãy vẫn còn lở vởn trong đầu. Ngay lúc này, khi kể lại câu chuyện, trước mắt tôi như vẫn hiện rõ mồn một hai khuôn mặt ấy.
Không có thờI gian suy nghĩ nữa. Tôi lập tức lấy gốI và mền kê làm toạ cụ, xoay mặt về hướng Tây Nam kết ấn Chuẩn Đề bố tự hộ thân và bắt đầu trì tụng theo phép Sư tử Hống:
“AUM – CHA – LE – CHU – LE – CHAN – DI – SVA – HA”
Trong lúc trì, tôi quán tưởng mình hiện tướng phẫn nộ (mà làm sao không “phẫn nộ” được cơ chứ! Làm thầy mà để ma giỡn mặt có đáng giận không!), tám tay tôi cầm đủ tám món binh khí :KIẾM – KÍCH – BÚA – MÓC CÂU – BÀNG BÀI – CHÀY ĐỘC CỔ - CHÀY TAM CỔ - VÒNG KIM CANG.
Tôi trì với tất cả sự tức giận, sợ hãi và xấu hổ. Đã lâu lắm rồi tôi mới có lại sự nhất tâm như thế này. Tiếng trì tụng ban đầu còn run rẩy, sau cứ to dần, to dần.Tôi cũng thấy mình cũng to dần như phiến đá trên Vồ Thiên Tuế của núi Cấm. Toàn thân tôi bốc lửa…
Lửa cất cao ngọn, từ trong thân tôi toả ra xung quanh rồI đốt trụI tất cả - kể cả tôi.
Tôi ngồI không biết bao lâu. Nhưng khi mở mắt ra xả đàn thì ngài cửa sổ trờI đã mờ mờ sáng. Toàn thân tôi ướt đẫm mồ hôi. Cái mền kê làm toạ cụ và phần nệm giường cũng thấm mồ hôi ướt sũng.
Tôi chà nóng hai tay rồI xoa bóp toàn thân cho thông máu. Thân thể tôi lúc ấy nhẹ nhàng và sảng khoái lạ lùng. Có điều… toàn thân tôi bốc ra mùi thúi kinh khủng, Nó thum thủm nặng mùi như xác chó mèo chết sình. Lúc đầu tôi còn tưởng ngoài cửa sổ có con chuột chết nào đó. Nhưng sau khi tìm kiếm một hồI, tôi giơ tay lên ngửI thì… Oẹ! mùi thúi xộc thẳng vào mũi xông lên tớI óc làm tôi muốn ói vọt ra. Tôi vộI vàng lau khô mình rồI nhảy vào nhà tắm. Mất gần ba mươi phút kỳ cọ tắm rửa, tôi mớI thoát khỏI sự ám ảnh của mùi hương độc đáo ấy.
Thả bộ ngoài vườn hoa nhà nghỉ Thanh Đa trong buổI sáng trong lành, tôi mớI cảm nhận hết giá trị của cuộc sống. Thế này mớI là hưởng thụ đây chứ! Chợt nhớ, đã lâu lắm rồI tôi không đi dạo buổI sáng. Tôi nhớ lạI những ngày ở chùa, sáng sớm thầy tôi đã bắt thức dậy đi kinh hành quanh khuôn viên chùa. Lúc ấy là những ngày vui sướng và an lạc nhất...
Từ sư phụ, tôi nhớ đến sư bá. Lâu lắm rồI tôi không về Thủ Đức. Một cảm giác mong nhớ tự dưng trào lên mãnh liệt đến nỗI tôi muốn đằng vân trở về chùa. MỗI bước chân đi của tôi kéo theo bao nhiêu hoài niệm. Nó cứ như những đợt sóng lòng dồn dập vỗ vào tâm trí…
CuốI cùng, tôi quyết định bỏ tour Củ Chi. Sau khi nhờ được thằng bạn trong công ty dẫn tour giùm, tôi nói vài lờI giả lả khách sáo vớI mọI ngườI trong đoàn và đi ngay, bỏ cả ăn sáng.
Từ Thanh Đa đi về Thủ Đức cũng không xa lắm. Vượt qua cầu Bình Triệu rẽ phảI cặp theo con đường song song vớI tuyến đường sắt, tôi về đến chợ Thủ Đức. Con đường này lâu lắm rồI tôi chưa đi ngang. Chính xác là từ sau ngày thầy tôi mất…
Con đường vào chùa cũng không thay đổI gì mấy. vẫn là những ruộng rau muống nốI tiếp nhau, vẫn là những hàng cây xanh mát mắt. Đây rồI, cánh cổng chùa bằng gỗ cũ kỹ nằm khiêm tốn dướI tán lá bồ đề rợp mát. Cổng vẫn mở rộng như ngày sư ông tôi còn tạI thế. Không khí tĩnh lặng và vắng vẻ quá. Tôi bâng khuâng nhớ đến hai câu đốI từng đọc ở Tịnh xá Trung Tâm:
“Thiền môn rộng mở ít ngườI đến
Cửa khám then cài lắm kẻ vô”
Sợ làm ồn, tôi xuống xe ở cổng và dắt bộ vào. Băng qua sân chùa còn rơi vãi ít chiếc lá đa khô, tôi dẫn xe vào vườn. Một chú tiểu trạc mườI sáu mườI bảy tuổI đang xách nước tướI cây. Nghe tiếng động, chú quay lạI nhìn tôi chăm chú. Tôi chưa kịp hỏI, chú đã nở nụ cươi tươi nói trước:
- Sư huynh tên Dũng phảI hôn?
- Đúng rồI, sao chú biết? – Tôi ngạc nhiên hỏI lại.
Chú tiểu vẫn cườI:
- Sư phụ có dặn, nếu sư huynh đến thì lên thất gặp sư phụ.
- Thất nào? Có phảI chỗ của sư ông lúc trước hôn.
- Dạ đúng rồi. Sau khi khi sư tổ viên tịch, sư phụ dọn lên ở trên đó luôn để tiện việc nhập thất.
- Vậy sao này sư bá không chữa bệnh nữa sao?
- Dạ cũng có, nhưng sư phụ chọn ngườI dữ lắm. Có duyên ông mớI chịu chữa. Bằng không, sư phụ kiếm cớ tránh mặt hết.
- Chà, sau này ông khó khăn quá vậy ta.
- Không phải. Sư bá không muốn tạo nghiệp nữa. HồI sư tổ viên tịch, ông cũng bị hành hết ba ngày mớI hoá được. Lúc đó, các thầy ở các chùa khác đến tụng kinh cầu nguyện, sư tổ đâu có cho. Ông nói, ba chục năm tạo duyên tạo nghiệp gây ân chuốc oán vớI cõi vô hình, bây giờ bị đình trệ ba ngày có là bao. Ông chỉ biểu sư phụ làm phép giảI hết các sắc thần, sắc binh mà trước đây ông mượn để làm việc…
- HồI sư ông bị bệnh, tôi kẹt tour miền Trung về không kịp. Có nghe Minh Tịnh kể lạI nhưng không rõ lắm…
- Sư tổ bị làm mệt suốt ba ngày đêm, ai nấy lo đến rơi nước mắt mà không biết phảI làm sao. Chỉ có sư phụ kề cận trì chú trợ lực cho ông, còn mấy đứa tụI đệ chỉ niệm Phật vòng ngoài.
- Ủa, vậy ra chú đi tu mấy năm rồI à. Vậy mà tôi hổng biết chú.
- Làm sao sư huynh biết được. HồI sư thúc mất cho đến bây giờ, huynh có về chùa được mấy lấn đâu. Về thì huynh chạy lên thất sư tổ ngồI miết, sau đó chạy qua phòng sư phụ ngồI nữa, huynh có để ý đến ai đâu.
Nghe đến đây, tôi khẽ cuốI đầu xấu hổ. Chú tiểu nói đúng. Tôi tệ dần từ sau khi thầy tôi mất…
- Sau khi sư tổ viên tịch, sư phụ không muốn chữa bệnh nữa. Khi nào gặp ngườI hữu duyên có thể tạo phước sau này, sư phụ mớI ra tay thôi. ĐốI vớI ngườI khác nhờ vả, khách thường thì sư phụ bế quan, khách VIP thì sư phụ đi lánh nơi khác. Riết rồI ngườI ta nản không muốn ghé nữa.
Tôi thở dài:
- Thần thông như sư bá mà không giúp ngườI thật là uổng phí.
- Sư phụ nói, Phật độ hữu duyên nhơn. Ngày xưa, trước khi độ ngườI, đức Thế Tôn thường nhập định quán chiếu nhân duyên các đờI của ngườI ta rồI mớI bắt đầu hoá độ. biết được căn duyên mớI hoá độ được tận gốc. Bây giờ, ngườI ta tu Tâm thì ít tu Tướng thì nhiều – tu Huệ thì ít tu Phước thì nhiều – tu Thật thì ít tu Giả thì nhiều – Chân thành thì ít LợI dụng thì nhiều… trợ duyên cho những con ngườI ấy là tự chuốc thêm phiền não, khó lòng thoát khỏI sanh tử luân hồi. Thôi thì, chùa trồng gì ăn nấy, không cần nhờ vả vào những đồng tiền bất chính của những ngườI giả vờ tin Phật. Hộ Pháp sẽ không bỏ ngườI tu …
- Vậy là sau này sư bá thường nhập thất lắm hả?
- Mô Phật. Một tháng sư phụ nhập thất một tuần. Những tháng Hạ, sư phụ không đi Kiết Hạ như các thầy khác mà vô thất ngồI luôn. Còn những ngày không nhập thất, sư phụ ngồI thiền định một ngày bốn thờI Tý Ngọ Mẹo Dậu, mỗI thờI khoảng hai tiếng đồng hồ.
Chỉ có hôm nay hơi lạ. Sư phụ mớI nhập thất có hai ngày thì sáng này ông dậy dặn đệ nếu có sư huynh nào tên Dũng đến chùa thì biểu lên gặp ông…
“Như vậy sư bá biết mình đến hôm nay!” – Tôi thầm nghĩ và càng kính phục thần thông của sư bá. Giá mà tôi có được một chút của ông thôi thì… Đang nghĩ vẩn vơ, tiếng nói của chú tiểu làm tôi giật mình trở về thực tạI:
- Sư huynh lên đi, đừng để sư phụ chờ.
- Ờ há! Mãi nói chuyện mà tôi quên mất. À, mà chú pháp danh gì vậy?
- Mô Phật, sư phụ đặt pháp danh cho đệ là Minh Trí.
Thì ra, hàng đệ tử của thầy và sư bá đều đặt chung chữ Minh. Tôi cũng có pháp danh là Minh Thông, nhưng ít ai gọI đến trừ thầy tôi. Có lẽ tạI con ngườI tôi còn nặng thế tục quá chăng?
Vừa nghĩ ngợI tôi vừa leo lên thất của sư bá. Nói là thất chứ thật ra là phần sân thượng phía sau chùa. Trước đây sư ông về cảI tạo lạI, che mái và ngăn làm hai. Một nửa làm thất và một nửa làm sảnh. Ở ngoài sảnh thờ năm đạo lệnh phù Bàn Cổ bằng vảI vàng. Nét phù được vẽ bằng bút lông đạI tự chấm châu sa và son tàu đỏ thắm. Đó là nơi huynh đệ tôi thỉnh thoảng lên tu luyện theo lệnh của sư ông.
Tôi leo lên đến nơi, nhìn thấy mọI thứ vẫn như xưa. Không kịp nghĩ ngợI gì vì sư bá tôi đã ngồI đó tự lúc nào. Nhìn cái dáng gầy gầy ngồI khoan thai bên cái bàn gỗ uống trà, tôi xúc động muốn trào nước mắt. Tôi bước nhanh đến chỗ ông ngồI, quỳ sụp xuống thổn thức:
- Thưa thầy… - Chỉ có hai tiếng thôi, tôi hết biết nói gì.
Tôi quen gọI sư bá là thầy từ khi thầy tôi dọn nhà về Thủ Đức sống cạnh chùa vớI sư ông (xem “Ngũ Lão Bàn Cổ lệnh phù”).
Sư bá nhìn tôi im lặng chẳng nói năng gì. Ánh mắt ông toát lên vẻ gì đó vừa nghiêm nghị vừa từ ái. Tôi trang trọng đảnh lễ ông bốn lạy. Ông ngồI tĩnh tạI không hề tỏ thái độ nào.
Lạy xong, tôi ngẩng nhìn lên, sư bá chỉ tay vào cái ghế lớn bên cạnh bàn ra dấu tôi ngồi. Nhìn cái ghế còn lớn hơn ghế ông ngồI, tôi rụt rè từ chốI và chạy lạI phía bàn thờ lấy cái ghế đẩu nhỏ hơn đặt xuống cạnh ông.
Sư bá khẽ gật đầu, lạI chỉ tay vào tách trà còn đang bốc khói để sẵn tự lúc nào ở trên bàn. Tôi không hiểu làm sao mà sư bá biết tôi đến lúc này mà rót trà để sẵn.
- Trà nguộI bớt rồI đó, con uống đi. – Lúc này ông mớI mở miệng.
Tôi suýt rơi nước mắt. Sư bá còn nhớ rõ tính tôi không thích ăn uống những đồ quá nóng. Ông quan tâm đến tôi như vậy, còn tôi thì…
Rón tay cầm ly trà lên khẽ nhắp một tí, tôi nghe tỉnh cả người. Mang tiếng là nước trà chứ thật ra chỉ là nước gạo lức rang vàng. Mùi thơm thoang thoảng của gạo rang làm tôi nhớ lạI những ngày xưa, lúc tôi bị đau bụng. Gần một tuần lễ tôi chỉ uống nước gạo rang này cầm hơi… Sư phụ tôi thường đùa tôi: “ Uống nước này đúng một tuần là con thoát thai hoán cốt luôn đó nghe!”.
- Thưa thầy … - Tôi rụt rè toan nói thì sư bá khoát tay.
- Thầy biết hết rồi.
- Sao thầy biết được ạ? - Vừa hỏI xong tôi mớI sực nghĩ mình hỏI quá thừa. Một tia sáng loé lên trong đầu tôi. - Vậy là hồI hôm này thầy đã…
Sư bá khẽ gật đầu, hơi mỉm cườI vớI tay lấy tách trà đưa lên miệng.
Thì ra là vậy. Tiếng vỗ bàn hồI hôm là do sư bá dùng phép cứu tôi. Chả trách tạI sao bỗng dưng ma quỷ rủ nhau biến mất sau tiếng động trong đếm ấy.
- Uống trà đi! - Tiếng của sư bá vang lên cắt ngang luồng suy tư vẩn vơ của tôi. Tôi vội vàng đưa tách trà lên miệng hớp một cái cạn sạch rồi với tay đặt lại lên bàn. Sau vài giây rụt rè, tôi hắng giọng hỏi ông:
- Thưa thầy, con …
- Con thắc mắc vì sao thầy biết phải không?
- Dạ, con… - tôi cứ ấp úng không biết phải hỏi thế nào cho phải.
Khẽ hớp thêm một ngụm trà, sư bá nói:
- Hồi thầy con mất, ổng có gửi lại mấy đứa con cho thầy chăm sóc. Mấy năm qua, sư huynh Minh An của con bỏ đạo theo đời xem như hết phương trở lại, sư huynh Minh Tịnh của con thì chuyên lo tu luyện khá bền bỉ, thầy cũng không phải lo âu. Chỉ có mình con… - nhìn tôi khẽ thở dài, ông nói tiếp – con cứ lửng lửng lơ lơ, nửa đời nửa đạo. Đường thẳng không đi, cứ lạng bên này, tấp bên nọ, lúc chuyên cần hôm sớm, lúc giãy đãy biếng lười. Thầy làm sao yên tâm được.
Tôi cúi đầu không dám nhìn sư bá. Ông nói như đi từ trong bụng tôi đi ra, khiến tôi có cảm giác mình làm bất cứ điều gì cũng bị ông nhìn thấy. Nghĩ đên đây bất chợt tôi điếng hồn… nhớ lại mấy bữa trước tôi nghe lời rủ rê của thằng Huỳnh đi uống bia ôm đến quá nửa đêm !!!
Giọng sư bá vẫn cứ đều đều trầm ấm:
- Hôi hôm, chư thần mách bảo con đang bị cô hồn khuấy phá, thầy nhân dịp này muốn giúp con trở lại con đường cũ…
Tôi không kịp giữ ý tứ, vội xen ngang:
- Thầy cho con hỏi cái phép hồi hôm là phép gì vậy thầy?
- Cái thằng… cái thói học nghề vẫn không bỏ, gặp đúng hệ là sấn tới – sư bá tôi cười nhẹ - thầy dùng câu :“Ki yắc bút ta tu - giắc thắc ki yắc. “
- Ủa, cái câu này dùng để hộ thân tránh người khuất mặt phá phách khi đến những nơi có nhiều âm khí mà thầy?
- Vậy hồi hôm phá con là người gì – sư bá lại vừa cười vừa lắc đầu.
- Nhưng mà…
- Nhưng cái gì? Học không đến nơi đến chốn còn cãi lại. Chỉ một câu chú, cách sử dụng cũng nhiều cái diệu dụng khác nhau. Cái này, khi đọc phải vỗ bàn…
Sư bá mất gần hai mươi phút để ôn lại các bài kinh Nam Tông và giảng lại những chỗ diệu dụng trong lúc sử dụng các câu kinh ấy.
- Mấy câu kinh này anh em tụi con đọc suốt, vậy mà đến bây giờ mới hiểu.
- Chỉ có con bây giờ mới hiểu thôi, Minh Tịnh nó hiểu và sử dụng từ lâu rồi. Cứ lo chuyện đời nhiều vô, có ngày con quên sạch hết những gì mọi người dạy con. Hừ! Chỉ có vài vong linh lưu lạc mà con còn không tự cứu mình được… vậy mà thuở xưa còn xách gói đi chữa tà…
Biết sư bá không giận, nhưng tôi vẫn cúi gằm đầu xuống vì xấu hổ.
- Việc con về chùa hôm nay cũng đủ chứng tỏ con còn chút cơ duyên. Đã đến thì phải ở lại đây ăn cơm, chiều rồi hẵng về. Thôi, con ra sau giếng tắm cho sạch rồi lên chánh điện cúng ngọ với Minh Trí. Nói Minh Trí đưa tạm cái áo của thầy để mặc…
Ngày hôm đó, tôi chìm trong không gian tĩnh mịch của ngôi chùa, những sợ hãi, lo âu, toan tính dường như đã chạy hết ra ngoài cổng…
Cho đến giờ, tôi vẫn thầm cảm ơn mấy con ma vì nhờ nó, tôi mới có cơ hội trở về với ngày xưa…